
Mật ong dú có mùi hắc như dầu hỏa, xộc lên cuống mũi rồi để lại cảm giác tê nhẹ ở đầu lưỡi thì rất có thể đã ám mùi từ thùng gỗ quét thuốc chống mối hoặc sơn dầu. Mùi này khác hẳn mùi keo nhựa cây vốn có của ong dú: keo thơm dịu như vỏ gỗ, còn thuốc mối gắt và «lạnh». Đây là lỗi sạch nằm ở khâu làm thùng, không phải do ong hay do hoa, và người mua hoàn toàn có thể ngửi ra nếu biết cách.
Ong dú không xây tổ bằng sáp trắng như ong mật nuôi thùng. Chúng trộn sáp tiết ra với nhựa cây tha về, tạo thành một thứ keo màu nâu sẫm, rồi trát lên mọi mặt gỗ bên trong thùng. Bầu mật, bầu phấn cũng nặn bằng chính thứ keo đó, thường dựa sát vách hoặc góc thùng.
Keo sáp – nhựa có tính chất giống dầu: nó hoà được với những chất mùi gốc dầu. Thuốc chống mối loại pha dầu, sơn dầu, dầu nhớt quét chân kệ đều là chất gốc dầu. Gỗ thấm thuốc, vách keo hút dần từ gỗ, và bầu mật dựa vào vách đó suốt nhiều tháng. Mật ong dú lại loãng và chua hơn mật ong thường, nên những mùi lạ không bị vị ngọt đậm che đi mà nổi lên khá rõ.
Thùng mới quét thuốc mà chuyển đàn vào ngay là trường hợp nặng nhất. Nhiều đàn yếu hẳn, có đàn bỏ tổ. Đàn nào ở lại được thì mẻ mật đầu tiên gần như chắc chắn mang mùi.
Khó nhất là tách mùi lạ ra khỏi mùi keo tự nhiên, vì mật ong dú thật vốn đã có mùi nhựa cây. Bảng dưới đây là cách người lọc mật trong trại phân biệt bằng mũi và lưỡi:
| Nguồn mùi | Ngửi thấy | Nếm thấy | Sau khi để chén mở 30 phút |
|---|---|---|---|
| Keo nhựa cây tự nhiên | Ấm, thơm như vỏ thông, nhựa điều, đôi khi hơi khói gỗ | Chua nhẹ, ngọt thanh, hậu hơi chát | Mùi dịu đi nhưng vẫn dễ chịu |
| Thuốc chống mối pha dầu | Hắc, giống dầu hỏa, xộc lên cuống mũi | Đắng ở cuống lưỡi, tê nhẹ đầu lưỡi | Vẫn còn, có khi rõ hơn khi mật ấm lên |
| Sơn dầu, dầu bóng gỗ | Mùi dung môi, giống mùi phòng mới sơn | Ngắt, khô ở họng | Bay bớt nhưng để lại mùi nhựa đường nhẹ |
| Dầu nhớt thải quét chân kệ | Mùi máy, nặng và béo | Có cảm giác nhờn trên lưỡi | Gần như không bay |
| Mật lên men nhẹ | Chua như giấm, hơi rượu | Chua gắt, có ga nhẹ | Chua rõ hơn, có bọt li ti |
Điểm phân biệt chắc nhất: mùi tự nhiên dù đậm vẫn «ấm» và tan dần, còn mùi hoá chất «lạnh», gắt và bám lại. Mật lên men thì chua chứ không hắc, đừng nhầm hai lỗi này với nhau. Muốn đọc thêm các kiểu mùi khác, xem mục Phân biệt mật thật.
Ngửi thẳng vào miệng chai thường không ra gì, vì mũi chỉ bắt được mùi chua và mùi nhựa của nắp. Làm theo thứ tự này:
Không ngửi liên tục quá ba bốn lần, mũi sẽ quen mùi và báo sai. Nghỉ vài phút, ngửi một cốc cà phê hoặc ra ngoài trời rồi quay lại.
Người nuôi làm thùng sạch trả lời được ngay những câu này. Người né tránh hoặc trả lời chung chung «thùng gỗ tự nhiên» thì nên hỏi kỹ hơn:
Gỗ tận dụng là điểm cần để ý nhất. Ván cốp pha từng bôi dầu chống dính, pallet hàng xuất khẩu thường đã xử lý hoá chất, gỗ phá từ nhà cũ có thể đã ngâm thuốc mối từ lâu. Nhìn bằng mắt không ra, ngửi gỗ khô cũng khó ra, nhưng khi ong trát keo lên và mật nằm đó vài tháng thì mùi lộ.
Vùng cao nguyên ven rừng, độ cao chừng 700 đến 900 mét, mùa mưa kéo dài và đất đỏ nhiều mối. Thùng gỗ đặt sát đất qua một mùa mưa là mối ăn chân. Vì thế người nuôi mới tìm tới thuốc. Cách làm sạch hơn gồm mấy việc đơn giản:
Thùng đặt trên kệ hoặc cọc cao chừng 50 đến 70 phân, cọc bằng sắt hoặc bê tông chứ không phải cọc gỗ. Mỗi chân kệ đặt trong một chén nước có vài giọt dầu ăn trên mặt để kiến và mối không bò qua. Chén nước phải thay khi mưa làm tràn hoặc lá rụng bắc cầu.
Dùng gỗ mới xẻ, không qua xử lý, loại ít mùi nhựa. Gỗ thông có nhựa, nhiều trại vẫn dùng nhưng phải phơi khô thật lâu. Thùng đóng xong để nơi thoáng ít nhất ba bốn tuần trước khi chuyển đàn.
Mặt trong thùng để mộc. Mặt ngoài nếu cần chống mưa thì dùng sơn gốc nước, phơi khô hẳn, không còn mùi mới đưa vào dùng. Mái che riêng phía trên thùng giúp gỗ ít ướt, ít mục, thì cũng ít phải nghĩ tới thuốc.
Những trại làm vậy vẫn có mối quanh vườn, nhưng mối không lên được thùng. Phần đất xung quanh nếu bắt buộc phải xử lý mối thì xử lý xa khu đặt thùng và trước mùa thu mật thật lâu. Chi tiết khâu thu và lọc ở trại có trong mục Thu và lọc mật.
Không có cách nào khử mùi hoá chất ra khỏi mật mà không làm hỏng mật. Đun nóng chỉ làm bay bớt mùi nhưng chất gây mùi chưa chắc đã đi, lại làm mật mất hương. Để lắng cũng không ăn thua vì chất đã hoà vào mật chứ không nổi hay chìm.
Mùi lạ nhẹ, chỉ thoáng qua ở lần ngửi đầu, có khi là mùi nắp nhựa mới hoặc mùi chai. Thử chiết một ít sang ly thuỷ tinh sạch, để vài giờ rồi ngửi lại. Nếu mùi biến mất thì lỗi ở nắp, không phải ở mật.
Nhiều loại thuốc chống mối chứa hoạt chất diệt côn trùng. Thứ đã làm ong yếu, bỏ tổ thì không nên nằm trong thứ người ta pha cho trẻ con uống. Người mua không có máy đo để biết lượng còn trong mật là bao nhiêu, nên mùi là tín hiệu duy nhất có trong tay. Coi mùi hắc là dấu hiệu dừng lại, không phải là chuyện khẩu vị.
Ngược lại, cũng đừng thấy mùi nhựa cây đậm là kết luận ngay có thuốc. Có những lô mật lấy từ vùng nhiều cây điều, cây thông thì mùi keo rất nặng mà vẫn sạch. Chính vì vậy mới cần ngửi đúng cách, so với mốc, và hỏi về thùng.
Lấy chai mật đang dùng ra, rót hai muỗng vào chén sứ, đậy đĩa mười phút rồi ngửi lần đầu. Ghi lại một hai chữ mô tả mùi. Lần tới mua mật, hỏi người bán đúng ba câu: thùng gỗ gì, có quét gì không, chân kệ chống mối bằng gì. Câu trả lời rõ ràng đáng giá hơn mọi lời quảng cáo trên nhãn.
Không nhất thiết. Ong dú tha nhựa cây về làm keo, vùng có nhiều thông, điều thì mật mang mùi nhựa khá đậm. Mùi nhựa tự nhiên thơm ấm và dịu dần khi để ra chén; mùi hoá chất thì hắc, cay mũi và bám lại.
Dầu ăn không độc nhưng dễ ôi, lên mùi và hút bụi, nhất là mùa mưa cao nguyên. Không nên quét mặt trong. Mặt ngoài muốn chống ẩm thì làm mái che tốt hơn là quét dầu.
Đun chỉ làm bay bớt một phần mùi, còn chất gây mùi không chắc đã hết, trong khi mật mất hương và enzym tự nhiên. Chai có mùi hoá chất rõ thì nên ngừng dùng, không cố xử lý.
Gỗ đã ngâm thuốc gốc dầu có thể giữ mùi rất lâu, nhất là ở mặt cắt và chỗ nứt. Thùng cũ mà mẻ mật nào cũng có mùi hắc thì nên chuyển đàn sang thùng mới gỗ mộc trước mùa thu.
Chiết một ít mật sang ly thuỷ tinh sạch, để vài giờ rồi ngửi lại. Mùi biến mất là do nắp hoặc ron nắp; mùi vẫn còn và rõ hơn khi pha nước ấm thì nằm trong mật.
Có thể do thùng nếu chân kệ quét dầu nhớt, nhưng hay gặp hơn là do máy hút mật chạy xăng, can đựng từng chứa dầu, hoặc kho chung với máy móc. Cần hỏi người bán cả về khâu hút và nơi cất mật.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →
Vài xác ong và vụn sáp nổi mặt là dấu mật ong dú thu tay, không phải bẩn; cặn dày, có ấu trùng, đất hay sợi vải mới là dấu lọc ẩu.
Mật ong dú từ rừng cao nguyên có mùi hoa rừng đặc biệt, khác với mật vùng đồng bằng. Người nuôi sạch dùng cách kiểm chứng mùi và kết cấu để bảo vệ uy
Mật ong dú rừng cao nguyên khác biệt ở độ trong và tốc độ kết tinh, phản ánh chất lượng nguyên bản từ thiên nhiên. Người nuôi sạch không pha loãng hay
Mật ong dú rừng cao nguyên khác biệt rõ rệt so với mật vùng đồng bằng qua màu sắc sẫm hơn và vị đậm đà. Người nuôi sạch không dùng hoá chất, để ong ki
Nuôi ong dú rừng cao nguyên không chỉ là chăm sóc đàn, mà còn là kiểm soát từng khâu để đảm bảo mật sạch và truy xuất được nguồn gốc. Mình sẽ chia sẻ
Mật ong dú rừng cao nguyên không chỉ khác biệt về màu sắc và vị đậm, mà sự sạch sẽ phụ thuộc vào khả năng kiểm chứng từng lô. Bài này hướng dẫn cách t
Mật ong dú rừng vùng cao nguyên: đặc điểm mật hoa rừng, màu sẫm hơn, vị đậm, hàm lượng khoáng khác mật vùng đồng bằng. Nội dung về tiêu chí sạch, không hoá chất, truy xuất vùng thu.